Danh mục
Trang chủ >> Chẩn đoán hình ảnh >> Các kỹ thuật hình ảnh y học phổ biến chẩn đoán ung thư vú

Các kỹ thuật hình ảnh y học phổ biến chẩn đoán ung thư vú

1 Star2 Stars3 Stars4 Stars5 Stars (1 votes, average: 5,00 out of 5)
Loading...

Ung thư vú có tỷ lệ tử vong cao nhất ở nữ giới khiến họ rất lo sợ bản thân mắc phải căn bệnh này. Do đó việc thăm khám, sàng lọc bệnh từ khi chưa có triệu chứng là rất cần thiết.

Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, y khoa có rất nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh giúp sàng lọc sớm ung thư vú. Bài viết dưới đây các bác sĩ giảng viên Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn sẽ chia sẻ đến bạn các kỹ thuật chẩn đoán ung thư vú phổ biến.

Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh phổ biến trong đánh giá ung thư vú

Ung thư vú là một khối u ác tính của vú, chứa các tế bào ung thư, các tế bào này sinh sôi rất nhanh ở các mô xung quanh hoặc lan ra các bộ phận khác trong cơ thể. Ung thư vú có thể xuất hiện là nguyên phát (từ chính mô vú) hoặc di căn (từ mô khác đến vú). Ung thư vú di căn, hay ung thư tiến triển là khi các tế bào ung thư nằm trong vú di chuyển đến một cơ quan hoặc bộ phận khác của cơ thể.

Theo bác sĩ Cao đẳng Y Dược Sài Gòn để chẩn đoán và đánh giá xem một khối u vú là ác tính hay lành tính, bác sĩ có thể chỉ định bạn thực hiện một hoặc nhiều kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh.

Bác sĩ có thể yêu cầu chụp nhũ ảnh, siêu âm vú, MRI vú, PET / CT hoặc xạ hình. Nếu khối u được xác nhận là lành tính, không cần thực hiện thêm phương pháp xét nghiệm nào khác bác sĩ sẽ tư vấn cho bạn theo dõi định kỳ hoặc theo dõi trong thời gian ngắn tùy từng trường hợp. Nếu các phương tiện chẩn đoán hình ảnh không đưa ra được kết quả rõ ràng hoặc khối u nghi ác tính bạn có thể được tư vấn thực hiện chọc hút tế bào hoặc sinh thiết dưới hướng dẫn của siêu âm, X quang hoặc cộng hưởng từ để lấy tế bào hoặc mẫu mô của khối u vú để làm xét nghiệm tế bào hoặc, mô bệnh học từ đó biết được bản chất của u vú.

Dưới đây là 5 kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh phổ biến trong đánh giá ung thư vú, bao gồm:

  • Chụp x-quang vú hay chụp nhũ ảnh, chụp mammo vú. Chụp X quang vú là phương pháp hình ảnh sử dụng tia X liều thấp để xem bên trong vú nhằm chẩn đoán sớm ung thư vú. Đây là phương tiện hình ảnh lâu đời nhất và được sử dụng đầu tay trong sàng lọc ung thư vú. Ngày nay, còn có tomosynthesis hay còn gọi là chụp nhũ ảnh ba chiều (3-D). Tomosynthesis tạo ra nhiều hình ảnh của vú từ các góc khác nhau và tái cấu trúc hoặc “tổng hợp” thành một bộ ảnh ba chiều. Các nghiên cứu ban đầu cho thấy phương pháp này có khả năng phát hiện nhiều khối u vú hơn, đặc biệt là phát hiện các u vú ở những phụ nữ có mô vú đặc.
  • Siêu âm vú: là kỹ thuật sử dụng sóng âm để tạo ra hình ảnh các cấu trúc bên trong vú . Trong khi siêu âm, bác sỹ sử dụng đầu dò (transducer) tỳ sát lên da, đầu dò có chức năng vừa phát vừa thu sóng siêu âm. Khi siêu âm, các tinh thể bên trong đầu dò phát ra các sóng siêu âm truyền vào bên trong cơ thể. Các mô, xương và chất lỏng trong cơ thể – một phần hấp thụ hoặc truyền qua – một phần phản xạ lại sóng âm và quay ngược trở lại đầu dò. Đầu dò thu nhận sóng âm phản hồi, gửi các thông tin này tới bộ xử lý, sau khi phân tích các tín hiệu phản hồi bằng các phần mềm và thuật toán xử lý ảnh, kết hợp các thông tin để xây dựng và tái tạo thành hình ảnh siêu âm mà giúp các bác sĩ nhìn thấy các cấu trúc bên trong vú, nhờ đó phát hiện được u vú.
  • Cộng hưởng từ vú: là kỹ thuật hình ảnh được sử dụng để phát hiện ung thư vú và các bất thường khác ở vú. Cộng hưởng từ vú thường được thực hiện trong trường hợp bác sĩ cần thêm thông tin về mức độ của bệnh mà các phương pháp hình ảnh khác như chụp X quang tuyến vú (nhũ ảnh) và siêu âm vú không đáp ứng được hoặc được sử dụng để sàng lọc phát hiện ung thư vú ở nhóm phụ nữ có nguy cơ mắc ung thư vú cao (Để biết thêm thông tin, xin vui lòng xem thêm phần “nguy cơ ung thư vú”)
  • Chụp PET / CT: hình ảnh được thu được bằng sự kết hợp quét PET và CT scan để cung cấp hình ảnh xác định vị trí giải phẫu của hoạt động trao đổi chất bất thường trong vú. Kỹ thuật này có thể phát hiện ung thư vú, xác định xem nó có lan rộng hay không, đánh giá hiệu quả của kế hoạch điều trị và xác định liệu ung thư có tái phát sau khi điều trị hay không.
  • Scintimammography: đây là một kỹ thuật khá mới. Kỹ thuật này còn được gọi là hình ảnh vú y học hạt nhân, có thể được sử dụng để xác định sự bất thường ở vú đã được phát hiện thông qua phương pháp chụp nhũ ảnh. Phương pháp này không xâm lấn và liên quan đến việc tiêm chất phóng xạ, hoặc thuốc phát ra phóng xạ, vào cơ thể bệnh nhân. Bởi vì chất phóng xạ tích lũy với lượng khác nhau trong các loại mô khác nhau, điều này giúp các bác sĩ xác định liệu ung thư có thể tồn tại hay không, có cần thiết phải thực hiện sinh thiết hay không hay cần theo dõi thêm. Mặc dù đây không phải là một công cụ sàng lọc chính và không thể thay thế kỹ thuật chụp nhũ ảnh, một số bác sĩ đã sử dụng kỹ thuật này như một công cụ bổ sung ở những phụ nữ có nguy cơ mắc ung thư vú cao, nhưng không thể trải qua sàng lọc cộng hưởng từ.

Các kỹ thuật viên kỹ thuật hình ảnh y học cho biết sau khi thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh bác sỹ kết luận khối u đó lành tính, thì bạn sẽ không cần phải thực hiện thêm các xét nghiệm nào nữa. Tuy nhiên, các bác sĩ khuyến cáo rằng bạn nên tiếp tục khám vú định kì để xem khối u vú có thay đổi, ổn định hay biến mất.

Nếu các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh trên không cho thấy rõ ràng khối u là lành tính hay ác tính, thì bạn có thể cần phải làm thêm các xét nghiệm tế bào học hoặc mô bệnh dưới hướng dẫn của siêu âm, nhũ ảnh hoặc cộng hưởng từ để biết rõ bản chất của u vú. Cụ thể có các phương pháp như sau:

  • Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA): là kỹ thuật sử dụng cây kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm, đâm vào u vú, tạo áp lực âm và rút thành phần chứa bên trong khối u ra để làm xét nghiệm tế bào học.
  • Sinh thiết lõi (CNB) dưới hướng dẫn siêu âm: Là kỹ thuật sử dụng kim có lõi lớn hơn kim của chọc hút tế bào kim nhỏ, dưới hướng dẫn của siêu âm để lấy mẫu mô từ khối u để làm xét nghiệm mô bệnh học
  • Sinh thiết vú dưới hướng dẫn của X quang (Stereotaxic): là kỹ thuật lấy mẫu mô vú dưới định vị không gian 3 chiều của máy chụp X-quang vú để làm xét nghiệm mô bệnh học.
  • Sinh thiết dưới hướng dẫn của MRI (MRI-guided biopsy): là kỹ thuật lấy mẫu mô vú dưới định vị không gian 3 chiều của máy cộng hưởng từ vú để làm xét nghiệm mô bệnh học.

Kết quả đánh giá khối u vú

Nếu khối u vú không phải là ung thư, theo dõi định kì, tùy từng trường hợp cụ thể bác sĩ sẽ tư vấn bạn theo dõi định kì hoặc theo dõi ngắn hạn bằng các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh vú và bằng cách tự khám vú. Bạn có thể được yêu cầu tái khám sau ba đến sáu tháng để đánh giá tiến triển của u vú.

Nếu chẩn đoán là nghi ngờ ung thư vú sau khi khám lâm sàng và chụp x-quang tuyến vú, nhưng sinh thiết lại cho thấy mô lành tín thì bạn sẽ được chuyển đến bác sĩ chuyên sâu hơn để được tư vấn thêm.

Bác sĩ giảng viên Trường Cao đẳng Dược Sài Gòn cho biết Nếu khối u vú là ung thư, bạn sẽ được chuyển sang khám và tư vấn với bác sĩ ung thư để chẩn đoán giai đoạn và lập kế hoạch điều trị. Tuỳ thuộc vào giai đoạn của ung thư và loại ung thư vú sẽ quyết định đến các lựa chọn điều trị.

Có thể bạn quan tâm

Những điều bạn cần biết về kỹ thuật siêu âm đầu dò

Siêu âm đầu dò là kỹ thuật hình ảnh cho phép đánh giá buồng trứng, ...